Cẩm nang du lịch Bắc Giang

Du lịch Bắc Giang là hành trình thú vị bởi bạn có thể thong dong trên những con đường nhựa thẳng tắp hay có cơ hội khám phá cung đường rừng đầy thách thức.


Thời gian thích hợp để khám phá Bắc Giang

Theo kinh nghiệm du lịch Bắc Giang nhiều bạn chia sẻ với Timeout Vietnam thì vào mùa nào Bắc Giang cũng đẹp, nhưng khoảng thời gian tháng 6 và tháng 7 là đẹp nhất. Đến Bắc Giang vào thời gian này, bạn sẽ bị mê hoặc bởi những cung đường đỏ rực màu vải chín.

 

Di chuyển

Từ Hà Nội, nếu di chuyển bằng phương tiện cá nhân, bạn có thể đi xuôi theo Quốc lộ 1A để đến Bắc Giang. Nếu lo ngại việc di chuyển bằng phương tiện cá nhân có thể làm bạn tiêu tốn quá nhiều thể lực và ảnh hưởng đến việc khám phá, tham quan thì nên di chuyển đến Bắc Giang bằng xe khách.

 

Khách sạn, nhà nghỉ

Hầu hết các địa điểm du lịch ở Bắc Giang như thành Xương Giang, làng Thổ Hà, chùa Vĩnh Nghiêm, suối Mỡ…bạn nên đi trong ngày, bởi những địa điểm này không có quá nhiều điểm chơi. Với những bạn ở nơi xa đến thì có thể nghỉ tại thành phố Bắc Giang sau đó ghé qua các địa điểm du lịch này.

 

Thắng cảnh du lịch tại Bắc Giang

Khu Du Lịch Khuôn Thần

Hồ Khuôn Thần  là một khu du lịch nổi tiếng ở bắc giang nằm ở phía Bắc xã Kiên Lao, huyện Lục Ngạn, là nguồn tài nguyên nước rất lớn phục vụ tưới tiêu cho phát triển vườn đồi. Bên cạnh đó, thiên nhiên đã ban tặng cho Khuôn Thần môi trường trong lành, mát mẻ thích hợp cho các hoạt động nghỉ ngơi, dã ngoại.Hồ Khuôn Thần được khởi công xây dựng vào đầu những năm 60 của thế kỷ 20. Hồ có diện tích 140ha, có 5 đảo được trồng thông. Xung quanh hồ là một vùng núi thấp bao bọc, với diện tích 2.283ha, rừng tự nhiên chiếm 300ha. Khu du lịch sinh thái hồ Khuôn Thần được biết đến là một khoảng rừng đẹp, là nơi dừng chân nghỉ ngơi, thư giãn và học tập bổ ích cho du khách. Nơi đây, được coi là lá phổi xanh của xã Kiên Lao và của huyện miền núi Lục Ngạn. Từ thành phố Bắc Giang theo Quốc lộ 31 đến thị trấn Chũ, huyện Lục Ngạn (khoảng 40km), rẽ trái khoảng 9km là chúng ta có mặt tại xã Kiên Lao, nơi có thắng cảnh Khuôn Thần tuyệt mỹ. Xuyên qua những quãng đường gập ghềnh, bỏ lại sau lưng sự ồn ào, khói bụi trong quá trình đô thị hoá, chúng ta bắt gặp mầu xanh của rừng của hồ nước mùi thơm của hoa với lá rừng có sức cuốn hút lạ kỳ. Điểm dừng chân đầu tiên chúng ta bắt gặp bạt ngàn mầu xanh của rừng, màu xanh của mặt nước hồ trên miền sơn cước.

Vượt qua những sườn dốc thấp ta gặp một không gian bao la của hồ nước. Cảnh đẹp thiên nhiên của Khuôn Thần hết sức kỳ thú mang lại một môi trường sinh thái trong lành, một cảnh quan giao hòa giữa khí trời và đất. Tại đây, du khách sẽ được đắm mình trong một cảnh sắc thiên nhiên còn hoang sơ, huyền ảo. Khuôn Thần nổi lên bởi vẻ đẹp của mặt nước hồvà những khu trang trại vườn đồi bao la xanh mát. Nơi đây cũng là vùng đất còn giữ được nhiều nét văn hoá của đồng bào dân tộc: Sán Chí, Cao Lan, Tày, Nùng. Con người nơi đây thật thà. Về với Khuôn Thần ngoài tận hưởng cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ, du khách còn được nghe những làn điệu dân ca của đồng bào dân tộc Sán Chí hay Sloong hao, Sli trữ tình của dân tộc Nùng.

Vực Rêu

Vực rêu thuộc xã Cẩm Lý, huyện Lục Nam (Bắc Giang) một thắng cảnh đẹp bên sườn Tây Yên Tử. Vài năm trở lại đây nhiều bạn trẻ đến đây để được hòa mình cùng thiên nhiên hoang sơ. Từ thị trấn Lục Nam xuôi quốc lộ 37 khoảng 15km sẽ đến Vực Rêu một thắng cảnh đẹp trên dãy Huyền Đinh. Điểm ấn tượng nhất ở Vực Rêu là có nhiều thác đá cao và đẹp, nước chảy quanh năm từ trên thượng nguồn. Bên cạnh đó là cả một “rừng” đá, hình khối đan xen nhiều lớp, cao sừng sững tới vài chục mét, lại có những tảng đá bề mặt rộng và phẳng lỳ… Nếu đến Vực Rêu vào mùa hè bạn sẽ được ngâm mình trong dòng nước suối mát lạnh chảy từ các vách đá. Tại đây có khe Lòng Thuyền là nơi dòng suối trong vắt chảy qua với những dãy núi đá chằng ngang tạo nên các thác nước đẹp. Đẹp nhất là thác Rêu cao chừng 15m, đổ xuống tạo thành vực sâu đủ chỗ cho cả chục người tắm.

Ngoài ra khi đến đây chắc hẳn bạn còn được nghe kể nhiều về những địa danh như: Núi Hình Nhân (núi có hình giống con người), núi Yên Mã (giống yên ngựa), núi Con Voi, Hang Dơi… tất cả tạo nên một bức tranh sơn thủy hữu tình. Vực Rêu còn có chùa tháp cổ của thiền phái Trúc Lâm là chùa Yên Mã và chùa Sơn Tháp. Trên đỉnh núi Yên Mã còn phế tích chùa cổ như: Sân, bậc thềm, vật liệu xây dựng, giếng nước, dấu chân Phật… Nhiều tài liệu cho biết: Cùng với Yên Tử, Vĩnh Nghiêm, chùa Yên Mã, Sơn Tháp có quy mô lớn, bề thế do nhà sư Pháp Loa, vị tổ thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm (thời Trần) là người đứng ra xây dựng đầu thế kỷ XIII…

Rừng Nguyên Sinh Khe Rỗ

Nằm trong Khu bảo tồn Tây Yên Tử, cách Hà Nội 120 km về phía Đông bắc, rừng nguyên sinh Khe Rỗ thuộc xã An Lạc, huyện Sơn Động một khu rừng nguyên sinh tiêu biểu cho vùng Đông bắc Việt Nam. Rừng cấm nguyên sinh Khe Rỗ có diện tích 7.153 ha với hệ thống động thực vật phong phú. Khu rừng có 236 loài thực vật, cây lấy gỗ, 255 loài dược liệu quý, 37 loài thú, 73 loài chim, 18 loài bò sát, đặc biệt có 7 loài thuộc loại động vật quý hiếm.

Có nhiều dòng suối nước trong vắt, chảy quanh co uốn khúc qua rừng. Đây là một khu rừng cấm nguyên sinh còn giữ được vẻ hoang sơ rất thích hợp cho du khách tham quan và nghiên cứu.Khe Rỗ nằm giữa hai con suối: nước Vàng và khe Đin, chạy ở giữa khu rừng nguyên sinh là suối Khe Rỗ, cũng vì thế mà khu rừng này mang tên Khe Rỗ; độ cao tăng dần từ Đông Bắc đến Tây Nam, chênh nhau đến 600 -700m, tiếp giáp với huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh ở phía Nam và Đông Nam, với huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn ở phía Đông và Đông Bắc; Rừng Khe Rỗ là nơi sinh tồn của 786 loài thực vật, trong đó có nhiều loài quý hiếm như: pơmu, thông tre (la hán), trầm hương, lát lim, thông làng, sa nhân, ba tích,…226 loài động vật thuộc 81 họ, 24 bộ, trong đó có một số loài quý hiếm đã có tên trong sách đỏ: Gấu ngựa, sơn dương, Gấu chó, báo, rùa vàng, tê tê… Đây là một khu rừng cấm nguyên sinh còn giữ được vẻ hoang sơ rất thích hợp cho du khách thích mạo hiểm và muốn khám phá sự kỳ thú của thiên nhiên hoang dã. Cảnh sắc của Khe Rỗ rất hoang sơ và thú vị với những tán rừng rậm rập những suối nước thác nước ghềnh đá đặc biệt là những hồ nước nhỏ trong xanh giữa rừng nơi bạn có thể bơi lội hay tắm mát thỏa thích.

Thác Ba Tia

Thác Ba Tia nằm dọc quốc lộ 31, cách TP Bắc Giang hơn 80km, chúng ta sẽ đến với thác Ba Tia (xã Tuấn Mậu, huyện Sơn Động)Thác Ba Tia chính là đầu nguồn của con suối Nước Vàng yên ả thanh bình. Dòng nước của thác cũng mang một màu vàng đặc trưng khi đặt chân tới đầu nguồn bạn sẽ không khỏi ngỡ ngàng và thích thú khi nhìn thấy vẻ đẹp hùng vĩ của thác nước ở độ cao 20m. Những dòng nước cuồn cuộn đổ xuống qua nhiều bậc thang, có đoạn thác ì ầm, tung bọt trắng xóa tạo những âm thanh sôi động. Có đoạn làn nước yên bình, len lỏi qua các khe đá tưởng như dải lụa của ai đó vắt ngang khu rừng.

Bao bọc quanh thác là những cánh rừng nguyên sinh với đủ loại sến, lim, dẻ và các loài động vật như hươu, lợn rừng. Cảnh sắc nước non quyến rũ hữu tình. Mùa hè đến với thác Ba Tia, bỏ xa những ồn ào, bụi bặm, lo toan của thành thị, được đắm mình dưới làn nước mát lạnh, hòa mình với khung cảnh thiên nhiên xanh mát của những cây cổ thụ, chìm trong tiếng chim rừng líu lo mang đến cảm giác thật thư thái, yên bình. Mới được khám phá nên vẫn mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ, thác Ba Tia được xem là điểm đến cho các bạn trẻ ưa thích mạo hiểm, muốn tìm về với thiên nhiên. Đến đây, các nhóm bạn có thể cắm trại nghỉ qua đêm đốt lửa trại có thể tự tay nướng món ăn ngon, hoặc thưởng thức món gà đồi quay thơm ngon cùng những món ăn đặc trưng của đồng bào dân tộc thiểu số nơi này. Do chưa được khai thác và đầu tư, đường đi lại vào khu thác vẫn còn khó khăn nhưng nếu đã chinh phục được cung đường cảnh sắc phong cảnh hữu tình sẽ khiến bạn thấy không bõ công. Càng ngạc nhiên, thích thú hơn bởi những gì thiên nhiên đã ưu ái ban tặng vùng đất này.

Hồ Cấm Sơn

Hồ cấm sơn diện tích hơn 2.600 ha, dài khoảng 30 km nước trong xanh quanh năm. Đến hồ Cấm Sơn quý khách thấy đây quả là bức tranh “Sơn thuỷ hữu tình” bởi bờ của hồ chính là những ngọn núi trùng điệp với rừng cây soi mình trên mặt nước êm ả và được điểm trang bởi hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ trông giống như Vịnh Hạ Long thu nhỏ trên đất Bắc Giang. Bởi vẻ nên thơ, kỳ vĩ của hồ Cấm Sơn mà nhạc sỹ Phó Đức Phương đã lấy cảm hứng sáng tác nên bài hát “Hồ trên núi” dào dạt trữ tình.

Đến với hồ Cấm Sơn, du khách có thể ngồi trên thuyền máy du ngoạn tham quan các hòn đảo lớn nhỏ và ngắm cảnh núi non mây trời hùng vĩ. Sau khi mãn nhãn với một vòng khám phá cảnh quan trên mặt hồ du khách ghé vào xóm chài mua món cá, tôm rồi lên bờ vào nhà dân quanh hồ mua thêm vài chú gà đồi rồi nhờ những người dân hiếu khách giúp đỡ và thưởng thức những món đặc sản dân dã cùng nhấp chén rượu ngô của đồng bào, phút chốc bao lo toan bộn bề của cuộc sống bỗng tan biến thay vào đó là cảm giác khoan khoái thư thái lạ thường. Hiện nay, hồ Cấm Sơn đang trở thành một địa danh du lịch hấp dẫn đối các bạn trẻ với những chuyến du lịch cuối tuần. Ngoài việc tham quan, nghỉ mát du khách còn có thể tham gia các hoạt động lý thú như bơi thuyền, leo núi, câu cá,…

Đồng Cao

Nằm trực thuộc một huyện cuối tỉnh phía đông tỉnh Bắc Giang, nằm giáp danh với tỉnh Lạng Sơn. Đồng Cao chính là điểm đến nằm giữa thung lũng mây mù gần như là quanh năm luôn, những ngọn núi trùng trùng điệp điệp, thỉnh thoảng lại bắt gặp những ngôi nhà được xây dựng bằng vách đất hoặc tường cay nằm cheo leo giữa một quả đồi hoặc có vài 3 nhà ở đó thôi, dù vậy nhưng cũng khá thú vị mỗi khi đi phượt Bắc Giang đến đây.

Phượt Đồng Cao lên cắm trại 2 ngày 1 đêm là đủ, nhưng nhớ là cần mang theo trại để nghỉ đêm tại đấy nhé! các bạn cũng nên mang theo chăn nữa tuy rằng vào mùa hè nhưng do ở đây khí hậu của vùng cao là thường mát mẻ quanh năm nên thường sẽ có cảm giác se lạnh khi về đêm nữa! ở đây cũng có củi để bán luôn nên các bác yên tâm không cần mang củi từ nhà đi đâu sẽ rất mệt khi mang theo đấy! Có lẽ ngắm hoàng hôn ở Đồng Cao vào lúc chiều tối là thời điểm cực thích nữa, nên đừng bỏ qua cảnh hoàng hôn tại đây. Một vùng đất rộng mênh mông với cả những tảng đá lớn nhỏ khác nhau trông vô cùng bắt mắt. Rồi những khối đã nằm san sát cạnh nhau với nhiều hình thù khác biệt. Đây là điểm phượt Bắc Giang ít người biết đến nhưng lại là điểm vô cùng hấp dẫn.

Suối Nước Vàng

Suối nơi đây là danh thắng nằm trên dãy núi Phật Sơn thuộc cánh rừng nguyên sinh Yên Tử, xã Lục Sơn, huyện Lục Nam, Bắc Giang. Nơi đây có núi rừng hoang sơ, khí hậu ôn hòa và đặc biệt có dòng suối quanh năm tuôn chảy một dòng nước màu vàng cách thành phố Bắc Giang chừng 60 km về phía đông bắc, thắng cảnh nước Vàng ở xã Lục Sơn (Lục Nam, Bắc Giang) thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử là điểm đến đầy kỳ thú cho các chuyến dã ngoại của những du khách “bụi” đi tìm cảm giác mạnh.

Khí hậu nơi đây ôn hòa, mát mẻ các tháng cuối năm thường có mây mù bao phủ rất thích hợp cho việc du lịch nghỉ dưỡng. Du khách trải qua những khoảnh khắc vượt thác, băng rừng, lội suối đầy thú vị và đáng nhớ. Để khám phá và chinh phục con suối từ phía hạ nguồn lên miền thượng mất quá nửa ngày, sau khi băng qua gần 20 thác ghềnh lớn nhỏ, một số thác đẹp như thác Anh Vũ, thác Mây, Thác Giót, Thác Nước Vàng… Thác nào cũng đẹp, cũng hấp dẫn và lạ mắt, phía dưới mỗi thác đều có những bồn tắm thiên tạo có thể chứa đến vài chục người, là nơi để bạn có thể thỏa sức vùng vẫy, giải nhiệt cùng dòng nước mát lạnh.

Hồ Khe Chão

Nguồn sinh thủy cho hồ là khu rừng tự nhiên bao bọc với diện tích 636 ha, được khoanh nuôi bảo vệ nghiêm ngặt từ hàng chục năm nay. Khu rừng này hiện được giao cho Ban Quản lý rừng phòng hộ Sơn Động khoanh nuôi, bảo vệ. Rừng ở đây có nhiều loài cây gỗ quý như: Sến, táu, de, dẻ, dổi nhiều cây có đường kính từ 30 đến 40 cm.

Nơi đây có nhiều loài động vật sinh sống như: Lợn rừng, hươu nai, sóc, cò, diệc. Đến hồ Khe Chão, du khách có thể sử dụng thuyền du lịch tham quan một vòng vùng quanh hồ. Sau khi thưởng ngoạn phong cảnh sơn thủy hữu tình, du khách có thể tham gia với các loại hình vui chơi giải trí khác như: bơi, lặn, đạp ngỗng nước, dã ngoại, cắm trại trên rừng… Một thú vui khác của nhiều người khi đến hồ Khe Chão là câu cá. Là hồ rộng nước sâu nơi đây có nhiều cá to nên không ít thợ câu trong và ngoài tỉnh thường tìm đến nhất là vào mùa hè hoặc các dịp lễ tết. Cá câu được có thể nhờ nướng ngay tại hồ. Nếu bạn không có tài câu cá thì có một cách khác là mua cá đánh bắt tại đây để thưởng thức cùng với thứ rượu men lá mang đậm bản sắc vùng cao.

Bãi Đá Chồng

– Bãi đá chồng là địa điểm tham quan du lịch nổi tiếng ở Bắc Biang với diện tích 34.800m2, Bãi Chồng có bãi cát biển mịn vào loại bậc nhất trên Hòn Lao (1 trong 8 hòn đảo của Cù Lao Chàm), có thảm thực vật xanh mượt với những khe nước tự nhiên đổ xuống từ núi cao và những hình đá kỳ thú gợi trí tưởng tượng phong phú. Ẩn hiện bên những bãi tắm uốn lượn, cát trắng nước trong tuyệt đẹp là “những hòn đá được thời gian mài tròn, xếp chồng lên nhau” như biểu tượng âm dương, chồng vợ, làm cho cảnh quan thiên nhiên nơi đây vô cùng thơ mộng quyến rũ những người ham thú du ngoạn thưởng lãm cùng thiên nhiên…

Bãi Chồng hồi ấy vắng vẻ đến lạ lùng, phương tiện đi lại những ngày đầu khó nói lên lời, do không có cầu cảng nên công việc này hết sức khó khăn; nhiều khi phải trung chuyển khách bằng thuyền nhỏ, thúng chai, thậm chí ban quản lý phải dự phòng bằng đường bộ nếu điều kiện thời tiết xấu. Song, chính vẻ đẹp hoang dã với cảnh trời mây, biển núi, không gian thoáng đãng.

Chùa Vĩnh Nghiêm

Chùa Vĩnh Nghiêm ở làng Đức La xã Trí Yên huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang, Việt Nam, còn được gọi là chùa Đức La, là một trung tâm Phật giáo là nơi đào tạo tăng đồ cho cả nước nơi phát tích Tam Tổ phái Thiền Trúc Lâm của Phật giáo Việt Nam, một viên ngọc sáng trong các chùa cổ Việt Nam. Chùa Vĩnh Nghiêm có quy mô lớn, tọa lạc trên mảnh đất khoảng 1 ha bao quanh khuôn viên là luỹ tre dày đặc. Chùa được kiến trúc trên một trục, hướng đông nam gồm 4 khối

Từ ngày dựng chùa, hai bên đường được trồng thông để thành chốn tùng lâm, có cây đường kính gần 1m. Trên sân chùa có một tấm bia to 6 mặt dựng năm Hoằng Định thứ 7 (1606) với nội dung ghi lại việc trùng tu chùa năm đó. Đối diện với tấm bia cổ là vườn tháp mộ trong đó là của 4 vị sư có tên tuổi các hòa thượng: Phù Lãng Trung pháp (hiệu Sa môn), Thông Duệ ứng Duyên, Thanh Quý, Tịnh Phương Sa môn. Khối thứ nhất kiểu chữ “Công” () gồm Bái đường nhà Thiêu hương, Thượng điện với thiết kế khang trang lối tàu bảy, đao lá, mái 4 đao 8 kèo kiểu con chồng thượng tam hạ tứ.

Đền Suối Mỡ

Đền Suối Mỡ thuộc khu di tích suối Mỡ  – xã Nghĩa Phương – huyện Lục Nam – tỉnh Bắc Giang. Đền Suối Mỡ gồm 3 ngôi đền Hạ, Trung và Thượng kế tiếp nhau qua đoạn suối dài, thờ chung Thượng Ngàn Thánh Mẫu (Công chúa Quế Mỵ Nương đời vua Hùng thứ16). Cách thành phố Bắc Giang khoảng 40km, nằm sâu trong các sườn núi non trùng điệp thuộc sườn tây Yên Tử, trên địa phận xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam khu danh thắng Suối Mỡ được thiên nhiên ưu ái ban tặng cho phong cảnh hùng vĩ và đẹp như một bức tranh.

Một chuyến du ngoạn trọn ngày trong cảm giác phấn khích đi lễ cầu an, hay leo núi xuyên rừng, ngâm mình trong dòng suối mát, ngắm nhìn cảnh sắc thiên nhiên hoang sơ miền sơn cước sẽ đem lại cho du khách nhiều ấn tượng thích thú và khó quên.

Chùa Bổ Đà

Chùa Bổ Đà có tên chính xác là chùa Quán Âm núi Bổ Đà hay Bổ Đà Sơn Quán Âm Tự (補陀山觀音寺), gọi tắt là chùa Bổ, còn có các tên gọi khác là chùa Quán Âm, Tứ Ân Tự (四恩寺). Chùa Bổ Đà (cùng 12 di tích khác) được công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt (đợt 7) theo Quyết định số 2499/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc vào ngày 22 tháng 12 năm 2016 (Phó thủ tướng Vũ Đức Đam ký thay)[1]. Ngày 12 tháng 3 năm 2017 (tức ngày 15 tháng 2 năm Đinh Dậu), Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang long trọng tổ chức lễ đón nhận bằng xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt này.

Hai bên bờ tường được xây bằng đất nện theo lối trình tường phủ đầy rêu, cao hơn một mét rưỡi, dầy chừng nửa mét. Bước qua cánh cổng gỗ có màu rêu phong đậm dấu ấn thời Lê, du khách sẽ bước vào nội tự chùa. Những bình gốm đủ loại được sắp đặt gọn gang và vô cùng độc đáo. Gần đó còn xuất hiện thêm 2 giếng nước có mái phủ rêu được cho là cùng thời điểm khi lập chùa. Toàn bộ khung cảnh chùa được sắp đặt tinh tế và tự nhiên nhất từ hoa, đá, nước khiến cho Phật tử càng cảm nhận được không khí linh thiêng và thanh tao tại đây.Tiếp đến là vườn tháp, chàu có một vườn tháp với gần 100 ngôi tháp được xây bằng gạch nung xếp hàng theo quy định của Thiền Tông. Nơi đây, chỉ các tăng ni dòng học Thiền Lâm mới được tang lưu xá lị tro cốt. Tháp được đặt trên bông sen và là nơi thu hút nhiều khách du lịch viếng thăm mỗi năm.Ngoài những cảnh sắc đó, tại chùa còn có những tài liệu, hiện vật quý hiếm, hệ thống tượng Phật theo thiền phái Trúc Lâm, văn khắc, thư tịch cổ, đại tự, câu đối, hương án (tòa Cửu Long), hai cây đèn gỗ thời Lê, chuông đồng niên hiệu Tự Đức, mõ cá dài trên mái đặc biệt bộ kinh Phật cổ nhất Việt Nam (khoảng 300 năm) được khắc trên 2.000 tấm gỗ thị vẫn còn khá nguyên vẹn, hiện được lưu giữ tại chùa.

Chùa Tây Yên Tử

Do đặc trưng địa hình núi cao, khí hậu trong lành, mát mẻ của khu rừng nguyên sinh, những suối nước trong mát, thích hợp cho những chuyến picnic, leo núi khám phá khu rừng nguyên sinh tại chùa Tây Yên Tử. Đặc biệt, trong Khe Rỗ có 2 con suối lớn và rất đẹp. Một là suối nước Vàng quanh năm như mật ong, những viên đá nổi lên đủ màu sắc, kích cỡ một là Khe Đin chảy dài với những đoạn thác cao đến 3, 4 tầng mỗi tầng khoảng 30-40m. Nơi những thác nước đổ xuống là những vũng nước trong vắt nhìn thấu đáy như: vũng tròn,…thích hợp cho bơi lội hay tắm mát.

Tại Tây Yên Tử đã xác định được 5 kiểu thảm thực vật chính: ở độ cao dưới 100 m: trảng cỏ và cây bụi; ở độ cao 100–200 m: trảng hóp xen cây gỗ nhỏ và tre nứa; ở độ cao 200–900 m: kiểu rừng kín thường xanh, cây lá rộng thường xen cây lá kim, mưa ẩm nhiệt đới; trên 900 m: kiểu rừng cây gỗ lá rộng. Cũng trên con đường chạy thẳng về phía chân núi cả đoàn đã có phút dừng chân bên lăng của vua Trần Hiến Tông. Người dân địa phương cho biết, trong tám vị vua Trần có lăng mộ ở An Sinh thì chỉ có vua Hiến Tông là được an nghỉ trong quần thể hoành tráng đầy đủ nhất. Khu vườn tượng quanh lăng đã khắc họa nên phần nào vẻ đẹp điêu khắc và những giá trị văn hóa đặc trưng của vương triều Trần cách đây bảy, tám thế kỷ.

Đền Nguyệt Hồ

Đền Nguyệt Hồ là một trong những di tích cổ gắn liền với truyền thống lịch sử văn hiến của quê hương Bắc Giang. Ngôi đền nằm ở vùng đất có nhiều di tích thuộc thượng lưu dòng sông Thương. Dọc ven dòng sông này có rất nhiều các điểm di tích thờ Mẫu nhưng được quan tâm và chú ý nhiều hơn là đền Nguyệt Hồ thuộc xã Hương Vĩ, huyện Yên Thế. Theo bề dày lịch sử, tín ngưỡng thờ Mẫu đền Nguyệt Hồ đã có nhiều lớp văn hóa tín ngưỡng của nhiều thời đại phủ lên. Song điều quan trọng hơn cả là từ lâu đời ngôi đền cổ này đã đi vào tâm linh tín ngưỡng dân gian gắn liền với truyền thuyết và lịch sử của dân tộc.

Nơi đây được xây dựng để thờ chúa Nguyệt Hồ, là một di tích lịch sử văn hóa gắn liền với du lịch Bắc Giang. Đền Nguyệt Hồ có kiến trúc độc đáo được xây dựng công phu. Nơi đây không những là chốn linh thiêng mà còn được đưa vào phục vụ du lịch.

Am Ngọa Vân

Nằm ở xã Bình Khê, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.Chùa Ngọa Vân (Ngọa Vân tự) – “chùa nằm trên mây” tọa trên ngọn núi Bảo Đài, dãy Yên Tử thuộc vòng cung Đông Triều trên địa phận thôn Tây Sơn, xã Bình Khê, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.Đi qua thôn Tây sơn ven theo hướng núi về phía tây bắc chừng 4 km, ở độ cao hơn 500m so với mực nước biển, cụm di tích kiến trúc chùa Ngọa Vân nằm trên một địa thế rất đẹp cả về phương diện cảnh quan và phương diện phong thủy.

Đây được xem là ngôi chùa cổ nhất Bắc Giang. Chùa có kiến trúc cổ độc đáo thu hút nhiều du khách ghé thăm.

Lưng tựa vào núi là đỉnh Ngọa Vân bốn mùa mây phủ, có hai dãy núi ôm vòng hai bên làm tay ngai, phía trước có ngọn núi nhỏ chắn làm án, xa hơn về phía nam là thung lũng lớn với dòng sông Cầm uốn lượn mềm mại. Với vị thế ở hình thế phong thủy “tả thanh long, hữu bạch hổ, sau có chẩm, trước có án, xa hơn là trường lưu thủy”, chùa Ngọa Vân quả là một nơi đắc địa, có thể ví như núi Linh Thíu ở Ấn Độ, nơi Phật Thích Ca đắc đạo vậy. Cùng với sự biến thiên của lịch sử, tuy hiện nay các công trình cũ của chùa Ngọa Vân đã bị tàn phá nghiêm trọng nhưng tên tuổi của nó đã gắn bó sâu sắc với cuộc đời và qúa trình tu hành của đức vua – Phật hoàng Trần Nhân Tông – vị sư tổ của Thiền phái Trúc Lâm.

Chùa Hồ Thiên

Ngôi chùa cổ bị bỏ hoang từ lâu trên đỉnh núi Nước Vàng thuộc dãy Yên Tử. Theo lời kể thì toàn bộ khu vực chùa đã biến thành rừng rậm nhưng còn nhiều bức tường gạch, tháp gạch, tượng đá và bia đá có khắc chữ Nho.Chùa cổ nằm ở độ cao chừng 1000m giữa vùng rừng núi hoang sơ mênh mang, là một kiến trúc có giá trị trên lĩnh vực nghiên cứu lịch sử văn hoá dân tộc. Căn cứ vào bài văn bia tháp Viên Quả và Viên Nhân ở đây được biết.

Đây được xem là ngôi chùa cổ nhất Bắc Giang. Chùa có kiến trúc cổ độc đáo thu hút nhiều du khách ghé thăm mỗi năm.

Chùa Vẽ

Chùa Vẽ tự Huyền Khuê, xưa thuộc xã Nam Xương, tổng Thọ Xương, Huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Nay thuộc phường Thọ Xương, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Chùa Vẽ tọa lạc trên một dải đất cao đẹp, thoáng đãng ở trung tâm làng Vẽ; Chùa Vẽ nhìn ra hướng Nam, phía trước có hồ nước rộng, xen giữa hai ngôi đình là : Đình Chung ( bên trái ) và Đình Cả ( bên phải ).Trong đại chiến chống giặc Minh, nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo đã chiến đấu trong một thời gian khá dài và hạ được thành Xương Giang trước khi viện binh của giặc Minh tới. Mặc dù phải giao chiến nhiều ngày, lực lượng của nghĩa quân Lam Sơn chỉ có một phần ba so với giặc, song dưới sự chỉ đạo của Lê Lợi và sự ủng hộ giúp đỡ của người dân hai làng thuộc cánh đồng Xương Giang, chỉ trong một đêm đã vẽ lên một thành chì bằng cút khiến cho giặc Minh vô cùng khiếp sợ, tưởng có Thần Linh hoá phép, buộc phải đàu hàng rút quân về nước.

Đây là một di tích nghệ thuật độc đáo. Chùa có giá trị hàng trăm tuổi, được tọa lạc trên một dãy núi cao cảnh đẹp nhìn ra rừng núi. Để tưởng nhớ công ơn của người dân hai làng nơi cánh đồng năm xưa đã giúp nghĩa quân vẽ thành giả chiến thắng giặc Minh, sau khi lên ngôi, vua Lê Lợi đặt tên nơi vẽ thành cót là ” Làng Thành” và nơi cung cấp nhân công vẽ thành là ” Làng Vẽ ” và cho dựng một ngôi chùa ở đây. Căn cứ bản khắc trên cây hương ” Thiên đài thạch bi kí Huyền Khuê tự ” dựng thời Lê, niên hiệu Vĩnh Thịnh ( Năm 1705 – 1719 ) thì Huyền Khuê tự khởi dựng vào thời Lê, trùng tu nhiều lần vào thời Nguyễn; lúc đầu chùa còn nhỏ, sau này sư Giáp Linh về đây trụ trì và giáo hóa dân làng(Thành và Vẽ ) đóng góp công, của và vận động quyên giáo cùng khách thập phương dựng chùa thành ngôi chùa lớn, rồi tạc tượng, đúc chuông.

Vua Sám Hối

Bức tượng được sơn son thếp vàng, tạc hình ảnh một nhà vua mặc triều phục đang quỳ gập người, hai bàn tay cung kính mở rộng để trên mặt đất, còn bên trên lưng là một pho tượng Phật cao lớn ngồi trên tòa sen nằm đè lên. Đó là một bức tượng to được sơn son thếp vàng tượng tạc hình ảnh một nhà vua mặc triều phục đang quỳ gập người, hai bàn tay cung kính mở rộng để trên mặt đất, còn bên trên lưng là một pho tượng Phật cao lớn ngồi trên tòa sen đè lên lưng nhà vua. Đem sự tò mò đến hỏi trụ trì của chùa là Hòa thượng Thích Tâm Hoan, tôi mới được hay biết đằng sau bức tượng này là cả một truyền kỳ dài gắn với tên tuổi của một vị vua trong lịch sử phong kiến Việt Nam.

Trụ trì Thích Tâm Hoan cho biết: “Bức tượng này là độc nhất vô nhị, không chỉ ở Việt Nam mà ngay cả trên thế giới, có bao nhiêu người được chiêm ngưỡng là bấy nhiêu sự ngỡ ngàng và ngạc nhiên khi được nghe về huyền tích sự ra đời của tượng “vua sám hối”. Nhiều người khi nhìn bức tượng này cho rằng đây là một sự trừng phạt nhưng trái lại, “Dáng quỳ gối phủ phục sát mặt đất của tượng vua thể hiện một sự quy phục tuyệt đối. Đó là sự hối lỗi chân thành, một sự thay đổi xuất phát từ sâu sắc trong tim chứ không gượng ép và do đó đây là một sự nhận lỗi, sửa sai chứ không phải là một sự trừng phạt”, nhà sư Thích Tâm Hoan nói “Pho tượng không chỉ là một sự hoài cổ, mà nó là một bài học lưu truyền cho muôn đời sau học tập”. Làm người ai cũng phải sửa bỏ thói hư tật xấu thì mới đạt được kết quả tốt. Ai sống trên đời cũng đều mắc sai lầm nhưng điều quan trọng là phải biết nhìn nhận và sửa sai, để được tha thứ. Khi biết nhận lỗi, những người khác sẽ không đánh giá và quy tội nữa.

Làng Thổ Hà

Làng Thổ Hà là một trong những làng nghề du lịch ở Bắc Giang khuất sau những tiếng xe cộ phố xá nhộn nhịp. Nằm ở xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Được coi là mảnh đất “địa linh nhân kiệt,” nổi tiếng trong cả nước với nghề làm gốm và quần thể kiến trúc cổ thuần Việt mang đậm dấu ấn của văn hóa đồng bằng Bắc Bộ. Thổ Hà đang là một địa chỉ quen thuộc hấp dẫn của khách du lịch trong và ngoài nước của những người nghiên cứu về kiến trúc và mĩ thuật của những nghệ sĩ và nghệ nhân về tìm cảm hứng.

Chương trình tham quan của khách du lịch có thể là: ngắm cảnh trên bến dưới thuyền của dòng sông Cầu thăm đình làng, chùa, cổng làng, văn chỉ, xem các cây đa cổ thụ, thăm một số nhà cổ trong làng, xem những ngõ xóm hun hút đẹp với vẻ cổ kính, thăm lò sản xuất gốm, thăm các gia đình sản xuất bánh đa nem và mỳ gạo bằng máy và thủ công, thăm các gia đình nấu rượu gạo. Khi về du khách nên mua vài trăm bánh đa nem vài cân mỳ gạo vài lít rượu gạo nếp để làm quà. Nếu du khách thích cảm giác mạnh hãy đến thăm Thổ Hà khi nước sông Cầu ở mức báo động số 3.Khi du khách đến thăm Thổ Hà có thể đồng thời đến thăm hai địa điểm du lịch nổi tiếng nữa của đất Kinh Bắc, đó là Chùa Bổ Đà và Đền Bà Chúa Kho. Các địa điểm này chỉ cách nhau từ 3 đến 5 km.Đường đi tới làng: từ Hà Nội theo quốc lộ 1 về hướng Bắc 31 km tới thành phố Bắc Ninh, rẽ trái đi 3 km tới phố Đặng, ngược theo đê sông Cầu 1 km thì tới bến đò Thổ Hà, sang đò là tới làng.

Làng Gốm Thổ Hà

Vốn dĩ đã đi lên cùng với tiếng là làng có nghề truyền thống làm bánh đa nem, mì gạo, nghề gốm. Làng Thổ Hà khuất sau những tiếng xe cộ, phố xá nhộn nhịp. Nằm ở xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Được coi là mảnh đất “địa linh nhân kiệt,” nổi tiếng trong cả nước với nghề làm gốm và quần thể kiến trúc cổ thuần Việt mang đậm dấu ấn của văn hóa đồng bằng Bắc Bộ.Thổ Hà đang là một địa chỉ quen thuộc, hấp dẫn của khách du lịch trong và ngoài nước, của những người nghiên cứu về kiến trúc và mĩ thuật, của những nghệ sĩ và nghệ nhân về tìm cảm hứng. Chương trình tham quan của khách du lịch có thể là: ngắm cảnh trên bến dưới thuyền của dòng sông Cầu, thăm đình làng, chùa, cổng làng, văn chỉ, xem các cây đa cổ thụ, thăm một số nhà cổ trong làng, xem những ngõ xóm hun hút đẹp với vẻ cổ kính, thăm lò sản xuất gốm, thăm các gia đình sản xuất bánh đa nem và mỳ gạo bằng máy và thủ công, thăm các gia đình nấu rượu gạo. Khi về du khách nên mua vài trăm bánh đa nem, vài cân mỳ gạo, vài lít rượu gạo nếp để làm quà. Nếu du khách thích cảm giác mạnh hãy đến thăm Thổ Hà khi nước sông Cầu ở mức báo động số 3.Nghề gốm Thổ Hà có từ thế kỉ 12 và là một trong ba trung tâm gốm sứ cổ xưa nhất của người Việt, bên cạnh Phù Lãng và Bát Tràng.

Theo gia phả làng nghề và những mẫu hiện vật khảo cổ được tìm thấy thì Thổ Hà là một trong những chiếc nôi của nghề gốm sứ. Sự hưng thịnh của nghề gốm đã giúp người dân xây dựng một quần thể kiến trúc đình, chùa, văn chỉ, cổng làng, điếm bề thế uy nghi. Trong làng còn lưu truyền câu chuyện ông tổ nghề gốm làng Thổ Hà là tiến sĩ Đào Trí Tiến. Vào cuối thời Lý (1009 – 1225) ba ông Đào Trí Tiến, Hứa Vĩnh Cảo và Lưu Phong Tú cùng làm quan trong triều và được cử đi sứ Bắc Tống (960 – 1127). Sau khi hoàn tất sứ mệnh, trên đường trở về nước qua Thiều Châu, tỉnh Quảng Đông gặp bão, phải nghỉ lại. Ở đây có lò gốm nổi tiếng, ba ông đến thăm và học được kỹ thuật làm gốm. Về nước Đào Trí Tiến truyền nghề làm hàng gốm sắc đỏ thẫm cho Thổ Hà, Hứa Vĩnh Cảo truyền nghề làm hàng gốm sắc trắng cho Bát Tràng, Lưu Phong Tú truyền nghề làm hàng gốm sắc vàng thẫm cho Phù Lãng. Trước đây lễ dâng hương Tổ nghề gốm (suy tôn cả ba ông) hàng năm được các nhà làm nghề gốm ở Thổ Hà tổ chức luân phiên nhau tại gia đình.

Khu Di Tích Suối Mỡ

Khu du lịch Suối Mỡ một khu du lịch đẹp ở bắc giang thuộc địa phận xã Nghĩa Phương huyện Lục Nam cách thành phố Bắc Giang khoảng 32km về phía Đông Bắc là một thắng cảnh nổi tiếng của Bắc Giang. Suối Mỡ hội tụ hai yếu tố về Du lịch sinh thái và Du lịch tâm linh. Đến với Suối Mỡ du khách sẽ được nghe những truyền thuyết còn lưu truyền trong nhân dân địa phương. Tương truyền rằng, vua Hùng Định Vương thứ IX có nàng công chúa Quế Mỵ Nương, hiền thục, nết na, nhân hậu. Nàng được nhiều vương tôn, công tử đến cầu hôn nhưng đều từ chối bởi nàng đam mê du ngoạn, đặc biệt là đến thung lũng Huyền Đinh – Yên Tử. Suối Mỡ chảy quanh co trong thung lũng núi Huyền Đinh, Yên Tử – nơi có nhiều thác nước lớn, nhỏ tung bọt trắng xoá và nhiều bồn tắm thiên nhiên. Suối bắt nguồn từ khu vực Đá Vách và Hố Chuối rồi xuôi dòng. Dòng suối lớn dần, chảy len lỏi theo khe núi.

Do sự kiến tạo của địa chất tự nhiên, những phiến đá lớn xếp chồng lên nhau theo nhiều dạng, nhiều cấp độ đã làm cho lòng suối thay đổi độ dốc đột xuất tạo ra nhiều thác nước lớn, nhỏ khác nhau. Đặt chân đến Suối Mỡ, cảnh tượng đầu tiên tràn vào mắt du khách là dòng nước trong trẻo uốn mình như một dải lụa từ trong núi chảy ra. Hai bên bờ suối chảy róc rách là rừng cây bạt ngàn xanh tươi. Trên những dãy núi này, nhiều loại cây như Tùng Bách Thông được trồng xen kẽ tạo thành một thảm cỏ xanh. Tất cả như hoà quyện với nhau làm cho không khí ở đây trở nên rất trong lành và thoáng đãng. Men theo con đường uốn lượn dẫn lên suối du khách sẽ bắt gặp những thắng tích như Đấu Đong Quân, chùa Hòn Trứng, chùa Hồ Bấc, đỉnh Tròi Xoan, bãi Quần Ngựa, thác Thùm Thùm. Thác Thùm Thùm là con thác cao nhất trong hệ thống suối thác được khoác trên mình một tấm áo choàng bằng nước như từ trên trời đổ xuống. Đứng trên đỉnh thác phóng tầm mắt ra thật xa du khách sẽ bao quát được toàn bộ quần thể thắng cảnh nơi đây. Một không gian vừa hùng vĩ vừa nên thơ sẽ đem đến cho du khách cảm giác dễ chịu, thư thái.

Thành Cổ Xương Giang

Thành cổ Xương Giang là điểm tham quan du lịch Bắc Biang nằm ở xã Xương Giang thành phố Bắc Giang tỉnh Bắc Giang. Đây là tên ngôi thành cổ do quân Minh xây dựng vào thế kỷ thứ 15. Xương Giang là tên ngôi thành cổ do quân Minh xây dựng vào thế kỷ thứ XV (1407). Thành được xây bằng đất các dấu tích còn lại cho biết thành hình chữ nhật chiều dài theo hướng Đông – Tây đo được 600m chiều rộng theo hướng Bắc – Nam 450m diện tích 27ha tường đắp đất cao dầy bốn góc có pháo đài hào rộng bao quanh mở 4 cửa cửa chính trông về phía Tây. Khảo sát thực tế và hồ sơ di tích thì dấu tích ngôi thành cổ xưa nay còn lại không nhiều, tường thành cao hơn mặt ruộng khoảng 3- 4m chân rộng 25m mặt rộng từ 16- 20m 04 góc có 4 pháo đài cao hơn mặt thành 4m nhô hẳn ra ngoài.

Trong đợt khai quật lần đầu năm 2008, các nhà khảo cổ học Viện Khảo cổ học đã phác hoạ bước đầu về hệ thống các công trình kiến trúc của thành cổ Xương Giang. Theo sử sách chiến thắng Xương Giang của quân và dân Đại Việt do Lê Lợi lãnh đạo đập tan 10 vạn quân xâm lược Minh trong gần 1 tháng tại địa bàn Lạng Sơn và Bắc Giang ngày nay. Với bốn trận thắng lớn: trận ngày 10/10 đập tan quân tiên phong và chém chết Thái tử Liễu Thăng tại cửa ải Chi Lăng; Trận ngày 15/10 đánh tan quân giặc tại Cần Trạm (Hương Sơn- Lạng Giang) buộc tướng giặc Bảo Định Bá Lương Minh phải tự vẫn; trận Hố Cát ngày 18/10 (thuộc Vôi, Xương Lâm, Phi Mô- Lạng Giang), làm cho viên Thượng thư Lý Khánh phải tự tử và trận Xương Giang ngày 3/11/1427 diễn ra trên cánh đồng Xương Giang (thuộc các xã Tân Dĩnh, Xuân Hương, Mỹ Thái huyện Lạng Giang và Thọ Xương, thành phố Bắc Giang) sau 10 ngày vây hãm, nghĩa quân đã đánh tan hơn bảy vạn quân giặc do Thôi Tụ và Hoàng Phúc chỉ huy, buộc quân Minh ở Đông Đô (Hà Nội) phải xin hàng rút về nước.

Cây Dã Hương 1000 Tuổi

Thời Pháp thuộc (năm 1938), cây Dã Hương đã được trường Viễn Đông Bác Cổ xếp vào loại cây cổ thụ hiếm có của Bắc Kỳ. Năm 1989, cây Dã Hương cùng quần thể cụm di tích Tiên Lục đã được Nhà nước xếp hạng là di tích cấp Quốc gia. Chu vi nhỏ nhất của gốc cây là hơn 8,3m, lớn nhất là trên 11m, nhiều người ôm không xuể. Lớp vỏ trung bình dày 15 cm.

Cây có chiều cao khoảng 40 m. Lá cây xanh quanh năm, hương hoa của cây toả ra mùi thơm ngát hoa nở vào cuối xuân đầu hè màu vàng nhạt cánh nhỏ li ti và có mùi thơm tựa như hoa Dạ Lan. Trải qua hơn ngàn năm cây Dã Hương vẫn đứng sừng sững giữa đất trời như chứng minh cho sức sống vĩnh hằng của một dân tộc gan góc quả cảm. Con người bị chinh phục và kinh ngạc bởi sức sống kiên cường mãnh liệt của nó. Thời gian qua được sự quan tâm của chính quyền các cấp cùng sự vào cuộc của các nhà khoa học cụm di tích Tiên Lục đã được đầu tư nâng cấp bảo vệ và trở thành điểm đến hấp dẫn của nhiều du khách trong và ngoài nước, các nhà khoa học đến tham quan và nghiên cứu.

Di Tích Khởi Nghĩa Yên Thế

Đến với Khu di tích Khởi nghĩa Yên Thế đầu tiên quý khách sẽ được tham quan và thắp hương tại ngôi đền Thề của nghĩa quân Yên Thế. Ngôi đền được xây dựng vào cuối thế kỉ 19 tuy rất nhỏ bé nhưng nơi đây đã chứng kiến toàn bộ diễn biến cuộc khởi nghĩa diễn ra cách đây 132 năm. Lúc đầu đền được lợp bằng tranh tre nứa lá. Đến năm 1897, thời kì hòa hoãn lần 2 giữa nghĩa quân Yên Thế và thực dân Pháp. Hoàng Hoa Thám đã cho tu sửa lại ngôi đền và chính tay ông đã lựa chọn từng khúc gỗ đễ xây dựng lên kiến trúc bằng gỗ lim.

Thật may mắn là đến ngày hôm nay kiến trúc đó vẫn được giữ nguyên vẹn như xưa. Đền được xây dựng theo kiến trúc chữ Đinh, gồm tiền đường 3 gian 2 dĩ và hậu cung 2 gian. Sau khi tu sửa xong ông lấy tên tự là Địa – Trung – Tiên để nói lên vị trí đặt ngôi đền là điểm giao hòa giữa trời và đất giữa trần gian và nơi tiên phật đồng thời cũng là để nói lên cảnh quan xinh đẹp xung quanh ngôi đền.

 

 

Đặc sản Bắc Giang

Vải Thiều

Trong số các sản vật nổi tiếng của Bắc Giang không thể không nhắc tới vải thiều mà đặc biệt hơn là vải thiều Lục Ngạn.

Quả vải thiều Lục Ngạn có đặc điểm khi chín có màu đỏ, vỏ mỏng, hạt nhỏ, cùi dày khi ăn có vị ngọt đậm khiến người ăn cứ muốn thưởng thức thêm.

Rượu Làng Vân

Rượu làng Vân là một trong những đặc sản danh tiếng không chỉ của Bắc Giang mà cả miền Bắc cũng biết đến loại rượu ngon này. Đây là loại rượu nếp nấu bằng nếp cái hoa vàng trồng ở làng Vân Xá, xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

Rượu làng Vân ngon nhờ men rượu bí truyền từ bao đời truyền lại. Ngày xưa đây là loại rượu được chọn để dâng Vua tiến Chúa, cũng như là loại rượu chính trong các bữa tiệc của triều đình. Vua Lê Hy Tông đã sắc phong cho loại rượu này bốn chữ “Vân Hương Mỹ Tửu” vào năm Chính Hòa thứ 24. Ngày nay đây là loại đặc sản thường được khách du lịch mua làm quà khi đến Bắc Giang.

Cam Bố hạ Bắc Giang

Cam sành Bố Hạ từng đi vào dân gian trong những câu thành ngữ, tục ngữ. Được coi là loại cam ngon đệ nhất trong nước, đã từng nổi tiếng khắp vùng tại các kỳ thi đấu quốc gia được tổ chức ở cố đô Huế, đã từng một thời là niềm tự hào của người dân xứ Bắc, nhưng đến ngày nay một vùng cam quý đang dần mai một và có nguy cơ chìm vào lãng quên.

Mỳ Chũ

Mỳ Chũ được chế biến từ hạt gạo Bao Thai Hồng trồng trên vùng đất đồi Chũ. Những sợi mỳ dẻo dai, đậm đà có thể làm hài lòng bất cứ thực khách khó tính nào khi thưởng thức.

Lươn Om

Đầu tiên đậu hũ được rán kết hợp thịt ba chỉ thái nhỏ xào và chuối xanh cắt khoanh, thêm củ sả, tương, mẻ và gia vị muối mắm. Tất cả sẽ được đưa vào nồi om.

Riêng lươn sau khi làm sạch, thái đoạn ngắn xong cũng cho vào nồi tiếp tục om chín. Món ăn được dọn ra có mùi thơm sả, tương, mẻ hòa trong từng miếng lươn béo ngậy rất hấp dẫn và kích thích vị giác.

Nem Nướng Bắc Giang

Món này làm từ thịt nạc và bì heo. Sau khi bì thái sợi nhỏ, cùng với thịt nạc sẽ được trộn lẫn với thính gạo rang vàng, muối, tiêu xay. Phần lá ổi non cuộn lại vào giữa thịt, lá vông lót bên ngoài. Cuối cùng, nem được đem gói trong lá chuối khô, bên ngoài lại bọc tiếp một lớp lá chuối tươi.

Khi gói, người làm phải bẻ góc sao cho bên ngoài nem trông đẹp như bánh tẻ. Bánh gói xong sẽ đem ủ khoảng một ngày, sau đó nướng trên than củi. Vừa nướng, nem vừa được rưới mỡ heo đến khi mùi thơm lừng là dùng được.

Nộm Cá

Món này làm bằng cá mè hoặc trắm còn tươi sống. Sau khi làm sạch  lược hết xương thái cá thành chỉ được trộn với quả trám xắt nhỏ củ chuối tiêu non lá gừng khế chua đập dập tương hột, sau đó cho thêm các loại gia vị cần thiết như mắm, muối, bột ngọt.

Khi ăn, thực khách sẽ cuốn chung với lá sung, nộm cá thơm thơm béo và bùi. Món này thường ăn kèm lá ổi, sung hay gừng. Vị ngọt của nước chấm, mặn chát lá sung hòa cùng với thịt cá thơm và xương cá bùi bùi tạo nên vị ngon lạ miệng.

Các Món Ếch

Món ếch xào dễ làm và không kén người thưởng thức. Cũng như nhiều nơi khác, người dân Việt Yên thường xào ếch với lá xương sông, lá lốt cùng tương. Món xào thường chỉ sử dụng phần đùi của ếch. Riêng món ếch băm viên rán chả dùng nguyên con băm nhuyễn, sau đó trộn trứng gà (hoặc vịt), mộc nhĩ, hành, muối và hạt tiêu, vo viên tròn và cho vào chảo dầu nóng rán vàng. Món này ăn kèm các loại rau sống và dùng nước mắm pha ngọt để chấm.

Món ếch nhồi có phần nguyên liệu chuẩn bị khá giống ếch băm viên rán chả, nhưng cách chế biến có vẻ khá cầu kì. Da ếch được lột khéo léo, sao cho giữ nguyên hình con vật. Phần thịt xương sẽ được băm nhuyễn và trộn chung với trứng gà, mộc nhĩ, hành, muối và hạt tiêu. Sau đó đem nhồi tất cả vào da ếch, hấp cách thủy và cuối cùng cho vào chảo rán vàng. Đây là món ăn ngon bổ dưỡng thường dùng để đãi khách trong các bữa tiệc.

Gỏi Cá

Cá mè sau khi được làm sạch sẽ phân tách phần thịt và xương. Sau đó, người làm đem băm nhỏ phần xương bày trước lên đĩa, kế đó tới phần thịt cũng vậy. Xung quanh thì trang trí bằng cà chua, rau thơm.

Riêng đầu cá băm nhỏ, nấu với nước tương và thêm chút mật mía để làm nước chấm. Món này thường ăn kèm lá ổi, sung hay gừng. Vị ngọt của nước chấm, mặn chát lá sung hòa cùng với thịt cá thơm và xương cá bùi bùi tạo nên vị ngon lạ miệng.

Bánh Đa Thổ Hà

Bánh đa Thổ Hà căng tròn những miếng lạc vàng thơm, điểm thêm dừa nạo có vị bùi bùi. Bánh khi phơi khô xong được xếp theo từng chồng, bán với giá khoảng 10.000 đến 15.000 đồng một chiếc.

Gà Đồi Yên Thế

Ở Yên Thế, món gà đồi chính hiệu mới là thứ đáng để nhớ bởi “Yên Thế đệ nhất gà đồi. Thịt thơm lại chắc, ăn rồi thì mê”. Món gà đồi ngon nhất chỉ nên luộc chín tới, thịt gà còn chắc giòn để chấm với muối trộn lá chanh, nước luộc ngọt lịm dùng để ăn kèm với cơm.

Bún Đa Mai

Bún Đa Mai có sợi dẻo ăn mát để cả ngày không chua lại trắng muốt như bột lọc. Bún Đa Mai có 4 sản phẩm chính, đó là: bún rối, bún vẩy ốc, bún con ba, bún vẩy (còn gọi là bún lá). Nghề làm bún ở Đa Mai xuất hiện tương đối sớm (khoảng 400 năm), là một trong bốn làng nghề làm bún cổ xưa của miền Bắc.

Chè Kho Mỹ Độ

Chè kho Mỹ Độ có màu vàng hơi sậm màu của đỗ với những hạt vừng tấm trắng rang thơm được rắc lên mặt đĩa chè như là vì sao.

Hương đậu xanh với hương vừng vị ngọt thanh của đường kính, vị béo thoang thoảng của mỡ chất đậm đà của đậu xanh hòa quyện vào nhau. Ăn một miếng chè đỗ đãi ta thấy cái cảm giác thật khó tả vị ngòn ngọt tan từ từ trong miệng.

Xôi Trứng Kiến

Bất kỳ ai một lần được thưởng thức xôi trứng kiến Lục Ngạn cũng sẽ nhớ mãi.

Có nhiều món làm từ trứng kiến nhưng thông thường người dân sử dụng trứng kiến để đồ xôi. Món xôi trứng kiến được làm từ gạo nếp nương, có thêm mỡ, hành và hạt tiêu, gia vị.

Cua Da

Cua da chỉ xuất hiện và khoảng đầu đông trong thời gian khoảng 2 tháng (tháng 9 và tháng 10 âm lịch) hằng năm, ở các ghềnh đá đoạn sông Cầu chảy qua địa phận một số xã ven sông huyện Yên Dũng.

Ăn cua da ngon nhất và đơn giản nhất là đem hấp bia. Khi cua chín có màu vàng cam rất hấp dẫn. Thịt cua ngọt, lớp vỏ ở chân và càng cua khá mềm chấm bột canh pha mù tạt kèm nửa quả chanh vắt vào thì không gì thú vị bằng.

Bánh Đúc Đồng Quan

Bánh đúc làng Đồng Quan được nhiều người yêu thích bởi bánh vừa dẻo vừa mát. Nhìn miếng bánh đúc trắng ngần bóng mịn lấm tấm mấy hạt lạc bùi bùi, giòn sần sật làm ta chẳng thể cưỡng lại mà cầm lên thưởng thức.

Ăn bánh đúc phải chấm với tương bần. Khi đó cái vị ngọt của gạo, vị nồng của vôi, vị béo của dừa, vị mặn của tương, tất cả hòa quyện thành vị quê nồng đượm.

Bánh Vắt Vai

Bánh vắt vai là loại bánh lạ từ hình thức đến tên gọi. Món ăn độc đáo này của đồng bào dân tộc Cao Lan, Lục Ngạn.

Để làm nên những chiếc bánh vắt vai thơm ngon, ngọt bùi cần thực hiện nhiều công đoạn: gạo nếp nghiền nhỏ bằng cối xay đá lá ngải cứu luộc lẫn nước vôi trong cho bớt vị chát, sau đó nghiền nhỏ trộn cùng bột nếp. Sau khi nặn và gói xong, bánh được luộc cách thủy khoảng hai giờ đồng hồ vớt ra để ráo nước là có thể dùng được.

 

THÔNG TIN DL BẮC GIANG


Khái quát về Bắc Giang

Phương tiện Bắc Giang

Du lịch Bắc Giang khi nào

Điểm tham quan Bắc Giang

Ẩm thực Bắc Giang

Mua sắm giá cả Bắc Giang

Hình ảnh du lịch Bắc Giang

Video du lịch bắc Giang

Lưu ý du lịch Bắc Giang

Tour tham quan du lịch Bắc Giang

Khách sạn tại Băc Giang

 

Comments